MÙA ĐÔNG NĂM 1986, VỆT MÁU LY TAN VÀ NỤ CƯỜI VỤT TẮT (Phần cuối)

MÙA ĐÔNG NĂM 1986,  VỆT MÁU LY TAN VÀ NỤ CƯỜI VỤT TẮT (Phần cuối)

Phần cuối

Giây phút ấy, các chị và tôi xúm lại quanh Má, những giọt nước mắt uất ức cứ thế trào ra không kìm nén được. Chị Sáu vừa khóc vừa nấc lên từng hồi, tha thiết năn nỉ: “Má ơi, đừng bỏ đi làm ăn xa nữa nghe Má…”.

Có nhắm mắt lại, hình ảnh này vẫn hiện rõ trong tâm, tiếng gọi xé lòng này vẫn vẳng bên tai của tôi, bây giờ đây.

Nhìn dáng hình tiều tụy của Má – người đàn bà cả đời chịu thương chịu khó, tôi thấu tận tâm can nỗi khổ tâm mà Má đang mang nặng. Tôi hiểu vì sao Má phải chọn con đường rời xa những đứa con thân yêu, trốn chạy khỏi sự cay nghiệt và phũ phàng đến tàn nhẫn của Ba. Ngay khoảnh khắc đó, trái tim non nớt của tôi trào dâng một nỗi oán hận khôn nguôi đối với Ba, và cùng với đó là niềm thương xót vô bờ bến dành cho Má – một nỗi niềm khắc cốt ghi tâm, vĩnh viễn không thay đổi.

Má đang âm thầm trách Ba. Má buồn, Má chọn cách rời đi để sinh tồn.

Nhưng trên thế gian này, có bao nhiêu người phụ nữ đang phải gánh chịu kiếp khổ đau vì chồng như Má? Câu trả lời là vô số kể!

Là duyên nợ chăng? Tại sao thế gian lại gán lên vai người phụ nữ yếu đuối cái ách “xuất giá tòng phu”, ép họ phải trả một món nợ tiền kiếp bằng chính cả thân mạng và thanh xuân trong cuộc hôn nhân đầy tăm tối? Sự công bằng nằm ở đâu?

Là quả báo chăng? Tại sao lại dồn ép người phụ nữ vào thế không nơi nương tựa, khi cha mẹ xem việc gả con là xong trách nhiệm, để rồi họ chỉ biết nuốt lệ, bám lấy bốn chữ “phu xướng phụ tùy” như một bản án nặng nề không lời giải oan dưới cái bóng của ‘quan tòa’ lễ giáo truyền thống? Chẳng lẽ sự ép uổng này là lẽ đương nhiên?

Hay là số phận? Tại sao lại không có lấy một khe hở cho người phụ nữ được ngẩng đầu nhìn ánh mặt trời, mà cứ bắt họ phải lầm lũi suốt đời trong bóng tối của niềm đau và nỗi tủi nhục?

MÙA ĐÔNG NĂM 1986,  VỆT MÁU LY TAN VÀ NỤ CƯỜI VỤT TẮT (Phần cuối)插图

Cuộc đời Má, 37 năm hôn nhân, chính là một minh chứng sống động cho những triết lý nhân sinh quái đảng và đầy nghiệt ngã ấy.

Tôi biết, trong sự im lặng ấy là cả một trời trách cứ Má dành cho Ba. Vì buồn, vì không thể chịu đựng nổi sự khắc nghiệt dưới mái nhà mình, Má buộc lòng phải nén nỗi đau ly hương, để lại đàn con nhỏ. Phải đến mãi sau này, khi thời gian đã phủ mờ nhiều ký ức, tôi mới thực sự hiểu hết câu chuyện oan nghiệt mà Ba đã gieo xuống đời Má: Kể từ ngày đầu tiên rời vòng tay Ông bà Ngoại về làm dâu xứ Tân Châu (năm 1954) cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay (năm 1988), suốt 37 năm ròng rã, cuộc hôn nhân ấy của Má chỉ toàn là những chuỗi dài nước mắt và những nỗi đau âm thầm… của kiếp đời truân chuyên trao duyên nhầm người, khổ đau trọn đời.

Tiếng khóc ai oán của người mẹ mất con, cộng hưởng với nỗi hờn giận người chồng tàn nhẫn đã khiến gia đình ly tán, tạo nên một bầu không khí u uất cùng cực. Tôi ôm lấy cánh tay Má, khóc theo Má. Giây phút ấy, tôi hiểu rằng nỗi đau không chỉ là cái chết vật lý của anh Hai, mà là sự đổ vỡ của một mái ấm. Tôi càng thương Má bao nhiêu thì lại hận người đã làm Má đau khổ suốt một đời bấy nhiêu, một sự oán hận nảy sinh từ lòng yêu thương bị tổn thương sâu sắc.

Nỗi đau ấy chỉ là khởi đầu, bởi sau này, Má và chính những người anh chị cùng tôi đi qua mùa đông năm ấy cũng lần lượt rời xa tôi vào những mùa đông khác. Màu vải trắng, tiếng chim quốc, và cái lạnh thấu xương của sự mất mát đã kết thành một khối ám ảnh, khiến tôi mãi mãi sợ hãi mỗi khi đông về.

Trong giáo lý Đại Thừa, mỗi nghịch cảnh đều là một bài học về Khổ và Vô thường. Cái chết của anh Hai và giọt nước mắt của Má chính là những nét vẽ đầu tiên phác họa nên bức tranh tang thương khiến tôi trầm mặc hơn, suy tư hơn về con đường tìm về giải thoát của tôi sau này.

Nhìn bức ảnh của gia đình chụp năm 1967 tại Long Mỹ (Má và 8 anh chị, chị Mười và tôi chưa sinh) – chín con người, chín mảnh ghép hoàn hảo của một gia đình đầm ấm, giờ đây chỉ còn lại ba người. Sự vô thường nghiệt ngã đã lấy đi gần hết những gì thân thương nhất, biến những nụ cười, những cái ôm và cả những ký ức sống động của gia đình một thuở thành những dĩ vãng xa xôi.

Những giọt nước mắt của tôi ngày hôm nay chính là thứ tình cảm chân thành và cao quý nhất mà tôi dành cho cái gọi là “gia đình” đúng nghĩa. Chúng không đơn giản chỉ thể hiện nỗi đau mất mát, mà còn là lòng hiếu thảo với Má, và nghĩa tình anh em gắn bó không thể xóa nhòa – điều này tôi nghĩ là cần lắm khi xã hội hiện nay, khi có một bộ phận chuộng lối sống thực dụng đến tàn nhẫn, vô cảm mà bỏ đi giá trị của tình thân gia đình.

Tôi không dìm mình trong gió mưa của cơn bão lòng, nhưng tôi hiểu được rằng – hãy cứ để nỗi buồn được bày tỏ, vì đó là một phần của kiếp người – rất người, và cũng là một phần của sự tu tập – biết nỗi đau nhưng không để nỗi đau nhấn chìm Chánh niệm.

Dù thân xác người thân đã trở về với cát bụi, nhưng tôi luôn tin rằng: vương quốc của tình thương mà Má, Anh Hai và các anh chị đã dệt nên trong căn nhà nhỏ xóm Chợ Nhà Thờ thì vĩnh viễn không bao giờ tàn lụi. Họ vẫn đang sống trong chính hơi thở của tôi, trong những lời kinh, tiếng kệ và trong tình thương mang chất liệu từ bi mà tôi đã và đang nuôi lớn trong đời sống tương quan với xã hội, nhân sinh.

Những người thân yêu của tôi đã hoàn thành xong một kiếp người và đang an nghỉ. Tôi thật tâm rất biết ơn khi hiểu được sự khai hóa của Sư ông Làng Mai, tôi chính là sự tiếp nối đẹp nhất của những người thân đã khuất ở chốn nhân gian này, trong tâm nguyện của họ ở hiện tại và mãi mãi.

(Hết)

Thích Thiện Thuận

Tin tức#MÙA #ĐÔNG #NĂM #VỆT #MÁU #TAN #VÀ #NỤ #CƯỜI #VỤT #TẮT #Phần #cuối1778921213

Tin mới cập nhật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
.
.