Vạn Thiện, ngày 25 tháng 4 năm 2026
Phần 2
Không thể nào tôi quên được cảnh đêm trắng tang thương và bóng hình đơn độc của mình năm đó. Tôi đạp xe từ bệnh viện về nhà báo tin. Dưới ánh đèn đường le lói rọi xuống con đường đá lồi lõm trước cổng nhà, ba người chị tôi Năm, Sáu, Bảy đứng chờ. Khi nghe hai chữ “chết rồi” rụng xuống từ môi tôi, tiếng khóc òa của các Chị thê lương không tưởng tượng nổi.
Trong phút giây ấy, trái tim tôi dù tan nát nhưng lại bỗng chốc trở nên lạnh lùng, dứt khoát. Tôi nói với các chị nhỏ đủ tôi nghe: nén đau thương, vô dọn dẹp để “đón” anh Hai về. Tôi biết mình phải đứng vững cho các chị tựa vào, dù năm đó tôi chỉ mới 16 tuổi.

Tấm hình Anh chụp năm 1970 tại Long Mỹ.
Đêm ấy, tiếng búa tháo vách lạch cạch xen lẫn tiếng khóc nghẹn ngào. Hình ảnh chị Hai và bốn đứa con nhỏ dại của anh (Phượng, Diễm, Vũ, Thịnh) bu quanh chiếc giường sắt đặt xác anh đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt tuổi trẻ của tôi. Đau đớn hơn cả, khi anh nằm xuống, Má vẫn đang biền biệt phương xa do buồn giận Ba. Chị em tôi hoàn toàn mất liên lạc, chỉ biết nhìn quan tài anh mà lòng trĩu nặng sự bất lực và buồn tủi.
Nỗi đau chồng chất nỗi đau là cảnh nhà tôi năm đó – đêm 21/02/1986 (nhằm ngày 13 tháng Giêng năm Bính Dần), khiến tôi trở nên trầm lắng hơn, u hoài hơn, suy tư nhiều hơn ở tuổi bắt đầu lớn của mình. Tuy anh ra đi không phải là mùa đông, nhưng vừa qua tết được mấy ngày, nhà ai trong xóm Nhà Đèn còn vui với không khí ngày xuân, riêng gia đình tôi bị hơi lạnh gió đông làm buốt tận tâm can.
Nhà tôi lần đầu có người mất, nhưng cay đắng nhất là lúc ấy Má không có nhà. Vì buồn giận Ba đối xử cay nghiệt, Má đã bỏ đi buôn bán tận Nam Vang (Campuchia) suốt mấy tháng trời chưa về. Chị em tôi hoàn toàn mất liên lạc, không biết cách nào để báo tin cho Má. Ba thì ở hẳn trong đồng làm ruộng, anh Tư lập nghiệp ở Sài Gòn xa xôi, anh Chín thì đang đi bộ đội đóng quân tại tỉnh Tà-keo bên đất bạn. Căn nhà chỉ còn chị Ba (người chị bệnh tật), chị Năm, chị Sáu, chị Bảy, anh Tám, chị Mười và tôi bơ vơ giữa tang thương.

Tấm hình thẻ học sinh chụp năm 1968, năm Anh học lớp 10.
Ngày đưa anh Hai về Tân Châu để chôn trong khu mộ phần dòng tộc theo ý Ba, tôi là người bưng di ảnh và lư hương vì các con anh còn quá nhỏ. Chiếc mâm tráng men cũ kỹ hoen gỉ có vẽ bông hoa, đặt trên đó là bài vị và tấm hình chân dung anh – người vừa hôm qua còn cười nói với tôi.
Bàn thờ anh được thiết lập bên cạnh bàn thờ Cửu huyền, với bức hoành trắng có hình chim quốc lẻ loi trên cành tre và câu đối do chính Ba nhờ chú Út Thống đặt:
Tam xích thổ phu thê vĩnh biệt. Ngũ canh sầu phụ tử phân ly.
三尺土夫妻永別。五更愁父子分離。
(Ba tấc đất, vợ chồng cách biệt. Năm canh sầu, cha con chia ly)
Điển tích về chim quốc kêu sầu, về những cuộc phân ly không hẹn ngày gặp lại sao mà giống gia đình tôi đến lạ. Và bốn chữ Hán trong vòng tròn “Tang trí kỳ ai” (喪致其哀) chỗ tiền bàn như một dấu ấn đóng vào lòng chúng tôi về nỗi sầu muộn vô phương cứu chữa. Câu này xuất phát từ tư tưởng của Đức Khổng Tử trong Hiếu Kinh: “Tang tắc trí kỳ ai”, nghĩa là lúc cha mẹ qua đời, người con hiếu phải lo liệu đám tang với tấm lòng đau xót chân thành, không cần chú trọng phô trương hình thức mà quan trọng nhất là tấm lòng kính trọng và nỗi đau buồn, thương xót người đã khuất.
Tôi và chị Sáu, chị Mười xuyên suốt đọc kinh Di Đà một năm ròng rã đề cầu siêu cho Anh, nhưng nỗi đau vẫn chưa nguôi. Cho đến một đêm, tôi bàng hoàng tỉnh giấc bởi tiếng khóc ai oán ngay sát mùng. Thò đầu ra ngoài, tôi thấy Má đang ngồi dựa vào tủ sắt, ôm mặt khóc nức nở với tiếng than đầy ai oán: “Vì ai, con tui chết mà tui không biết? Vì ai, con tui chết tui không được nhìn mặt?”.
(còn tiếp)
Thích Thiện Thuận
Tin tức#MÙA #ĐÔNG #NĂM #VỆT #MÁU #TAN #VÀ #NỤ #CƯỜI #VỤT #TẮT1778304524










