
Có những từ ngữ sinh ra để giữ gìn sự trang nghiêm. Nhưng khi lọt vào tay những kẻ quen cúi đầu trước quyền lực, chúng không còn là ngôn từ nữa, mà trở thành chiếc khăn lau giày bằng chữ nghĩa.
“Suy tôn” là một từ như thế.
Năm mươi năm sống ở đời, hai mươi năm làm truyền thông Phật giáo, tôi chỉ thấy chữ “suy tôn” được dùng trong một không gian rất đặc biệt: dành cho những bậc giáo phẩm cao nhất của Phật giáo, những vị thuộc Hội đồng Chứng minh như Đức Pháp chủ hay các vị Phó Pháp chủ. Đó là những người được xem như biểu tượng đạo hạnh, trí tuệ và giới đức của cả một cộng đồng tín ngưỡng.
Ngay cả chức danh Chủ tịch Hội đồng Trị sự — người điều hành Giáo hội — cũng không dùng chữ “suy tôn”, mà dùng chữ “suy cử”.
Bởi người xưa hiểu rất rõ: “suy tôn” không phải là bầu bán hành chính. Nó là sự tôn kính gần như thiêng liêng của số đông đối với một nhân cách được nhìn nhận vượt lên trên quyền lực thông thường.
Thế nhưng dạo gần đây, báo chí Việt Nam bắt đầu đem chữ ấy ra dùng loạn xạ. Hôm nay suy tôn người này, mai suy tôn người kia. Và mới nhất, người ta còn dùng chữ “suy tôn” cho… vợ của một quan chức lãnh đạo cao cấp.
Nghe mà lạnh sống lưng.
Không phải vì người phụ nữ ấy không xứng đáng được kính trọng ở góc độ nào đó. Mà vì người ta đang cố tình nâng một nhân vật mang tính “phu nhân quyền lực” lên bằng thứ ngôn ngữ vốn dành cho các biểu tượng tinh thần tối cao.
Đó không còn là ca ngợi nữa.
Đó là nịnh.
Và là thứ nịnh đạt tới trình độ biết làm thơ bằng nước bọt.
“Suy tôn” nghĩa là gì?
“Suy” là suy cử, suy xét, công nhận. “Tôn” là tôn kính, đặt ở vị trí cao quý. Ghép lại, “suy tôn” là sự tôn vinh có tính biểu tượng, mang chiều sâu đạo lý và giá trị tinh thần.
Người được suy tôn phải là người mà khi nhắc đến, thiên hạ thấy mình nhỏ lại vì kính trọng, chứ không phải vì sợ hãi quyền lực hay muốn kiếm chút ân huệ.
Thế nên, nếu hôm nay một chức danh hành chính cũng được “suy tôn”, ngày mai vợ quan chức cũng được “suy tôn”, thì ngày kia có lẽ con chó của lãnh đạo đi dạo quanh hồ cũng sẽ được báo chí “suy tôn là biểu tượng trung thành của thời đại”.
Ngôn ngữ bắt đầu mục ruỗng từ đó.
Mà ngôn ngữ mục ruỗng, thường là dấu hiệu của một xã hội đang mắc bệnh thần phục quyền lực.
Ngày xưa, nịnh thần còn phải lén lút. Nay nịnh đã thành một ngành công nghiệp.
Người ta nịnh bằng bài báo.
Nịnh bằng hội thảo.
Nịnh bằng phát biểu.
Nịnh bằng bài hát.
Nịnh bằng nước mắt xúc động đúng quy trình.
Và giờ, nịnh luôn bằng… từ điển.
Khi quyền lực cá nhân ngày càng lớn, thì xung quanh quyền lực sẽ tự sinh ra một hệ sinh thái bầy đàn.
Khi quyền lực tập trung vào một cá nhân, thì sự trung thành không còn đo bằng năng lực làm việc nữa, mà đo bằng khả năng biểu diễn lòng tôn kính.
Người đáng chú ý nhất không phải là người có quyền.
Mà là đám đông tranh nhau quỳ.
Bởi chính họ tạo ra ảo giác “thiên mệnh”, khiến người có quyền lực tưởng rằng mình thật sự vĩ đại đến mức mọi lời tâng bốc đều là chân lý.
Và rồi hậu quả xuất hiện.
Trước hết là sự suy đồi của báo chí.
Báo chí lẽ ra phải là nơi giữ chuẩn mực ngôn ngữ và khoảng cách cần thiết với quyền lực. Nhưng khi nhà báo bắt đầu viết như thái giám đọc chiếu chỉ, thì chữ nghĩa không còn chức năng khai sáng nữa, mà trở thành công cụ xoa bóp tâm lý cho giới có quyền.
Kế đến là sự tha hóa của xã hội.
Khi trẻ con lớn lên trong môi trường mà thấy người ta thành công nhờ nịnh hơn là nhờ tài, chúng sẽ học rất nhanh rằng: cúi đầu đúng người quan trọng hơn đứng thẳng làm người tử tế.
Cuối cùng là sự cô lập của chính người được nịnh.
Bởi sống giữa rừng lời tâng bốc, họ sẽ không còn nghe được sự thật nữa. Mà người không còn nghe được sự thật thì sớm muộn cũng đưa ra những quyết định sai lầm.
Lịch sử Á Đông đầy rẫy những triều đại sụp đổ vì vua chỉ thích nghe lời ca tụng.
Từ cung đình phong kiến đến các chế độ hiện đại, căn bệnh nịnh thần chưa bao giờ thay đổi. Chỉ khác là ngày xưa dùng ngà voi, bút lông; ngày nay dùng micro, truyền thông và mạng xã hội.
Bài học lớn nhất có lẽ là thế này:
Một xã hội văn minh không phải là xã hội không có người giỏi hay người quyền lực.
Mà là xã hội còn giữ được sự đúng mực trước quyền lực.
Khi một dân tộc bắt đầu dùng những từ linh thiêng nhất để tâng bốc những con người bình thường chỉ vì họ đứng gần ngai vàng, thì đó không còn là sự kính trọng nữa.
Đó là dấu hiệu của nỗi sợ.
Và nỗi sợ kéo dài quá lâu sẽ biến con người thành chuyên gia bò sát bằng ngôn từ.
Ảnh: Suy tôn Hòa thượng Thích Phổ Tuệ lên ngôi Đệ tam Pháp chủ GHPGVN
Bài nổi bật,Diễn đàn#Khi #báo #chí #lạm #dụng #từ #suy #tôn1778212146










